Huỳnh Kim Quang: Đón Xuân, Uống Trà, Mạn Đàm Chuyện Đời, Chuyện Đạo


15799982_1279943818718959_7523505182858389232_o

Ngày Tết theo truyền thống dân Việt là dịp sum họp gia đình, họ hàng. Dù đi đâu hay có bận gì thì tới ngày Tết con cháu trong nhà cũng dành vài ngày để quy tụ về nhà ông bà, cha mẹ, nhà từ đường cùng nhau ăn Tết, chúc xuân, thăm hỏi và hàn huyên chuyện trò.

Thôi thì mình cũng “trước sao sau dậy,” theo tục lệ mấy ngày Tết cùng nhau đón xuân, ăn mứt, uống trà và mạn đàm chuyện đời, chuyện đạo cho vui! Người viết đã pha bình trà rồi, lại còn có mứt nữa. Bây giờ mình bắt đầu câu chuyện đầu năm đi nha.

Theo âm lịch, năm nay là năm Đinh Dậu, năm con gà. Con gà làm được một việc lợi lạc mà những con khác trong mười hai con giáp không làm được là đánh thức nhân gian bằng tiếng gáy lúc gần sáng. Ở miền quê Việt Nam ngày xưa, mà có lẽ ngày nay cũng thế, khi mà người dân quê ít ai canh đồng hồ báo thức để dậy sớm đi cày cấy, đi làm lụng, đi buôn bán tảo tần thì tiếng gà gáy sáng chính là đồng hồ báo thức chính xác và hữu ích nhất.

Trong lúc mọi người đang ngủ say thì tiếng gà gáy thức tỉnh họ dậy, kéo người ta ra khỏi mộng mị của cuộc đời để trở về với thực tại cuộc sống. Cho nên ca dao Việt Nam có câu:

“Gió đưa cành trúc là đà
Tiếng chuông Linh Mụ, canh gà Thọ Xương.”

Người mình xem tiếng gà gáy báo thức sang canh như tiếng chuông Chùa Linh Mụ thức tỉnh lúc gần sáng. Như vậy, con gà ngoài việc cống hiến trứng và thịt cho con người ăn còn giúp người ta tỉnh giấc mộng đời. Hữu ích lắm chứ!

Xin nói thêm về con gà một chút để biết cho vui. Theo tự điển bách khoa mở Wikipedia, thì con gà là loài gia súc có mặt sớm nhất tại Đông Nam Á và tại Ai Cập gà được biết tới rất sớm vào khoảng 15 thế kỷ trước công nguyên. Vào năm 2011, dân số gà nhiều hơn gấp 2 lần dân số loài người, với 19 tỉ con gà sống trên trái đất.

Nhưng, nói đến tục lệ đón xuân của người Việt thì người viết chịu nhất là chuyện làm mới mọi thứ từ tâm đến thân, từ trong nhà ra ngoài đường, đâu đâu cũng mới, cũng đẹp. Để đón xuân, người Việt mình chuẩn bị nhiều thứ, sơn sửa, quét dọn, lau chùi, trang hoàng nhà cửa từ trong ra ngoài. Lại còn sằm sửa đồ đạc, mua hoa quả bánh trái, rim mứt để cúng Phật, cúng ông bà trong ba ngày Tết. Và đối với bọn con nít thì háo hức se sua quần áo mới để mặc đi chơi Tết. Đặc biệt, trong ngày Mùng Một Tết thì tục lệ nước mình rất kỹ lưỡng, rất tinh tế, từ việc giữ gìn lời ăn tiếng nói đến việc đi chùa lễ Phật trong ba ngày Tết để thân tâm đều trong sạch mà chiêu cảm phước lạc cho cả năm.

Lúc nhỏ thì không hiểu, nhưng khi lớn lên, học được Phật Pháp thì người viết nhận thức tục lệ sửa soạn và làm mới thân tâm trong ngày Tết là điều rất hay, rất hữu ích. Qua đó, ít nhất, một năm người mình cũng có một cơ hội để tu sửa thân tâm, nhất là tu sửa cái tâm mình để sao cho không nghĩ, không nói và không làm điều gì bất lợi cho mình và người. Đó chính là thực hành theo lời Phật dạy là chuyển hóa chánh báo (thân tâm) và y báo (hoàn cảnh sống chung quanh, gia đình và xã hội) bằng cách chuyển hóa ba nghiệp (tức hành tác của thân, miệng và ý) theo điều thiện. Đó cũng chính là làm đúng theo đạo lý nhân quả, tạo nhân lành để có quả lành. Nếu chỉ biết cầu mong điều tốt đẹp mà không làm gì để tạo nhân lành thì không thể có kết quả lành đến với mình. Khoa học và thực tế lắm chứ, không mê tín dị đoan chút nào. Nếu mỗi ngày cũng làm mới thân tâm như ngày Tết thì chắc chắn sẽ có nhiều kết quả lợi lạc hơn rất nhiều.

Ở Quận Cam của Tiểu Bang California, Hoa Kỳ, nơi có đông đảo người Việt định cư nhất tại hải ngoại, vào dịp cuối năm âm lịch phố xá cũng tưng bừng vào những ngày mua sắm đổ Tết. Ở đây không thiếu thứ gì, từ hoa quả bánh trái, rim mứt, và những món ăn truyền thống dân tộc. Dường như ở đây, những ngày cận Tết thì có không khí Tết hơn là chính mấy ngày Tết.

Người viết mấy năm nay cứ vào đêm Giao Thừa là đến các chùa tại Little Saigon để làm tin, làm phóng sự cho báo. Nhộn nhịp, vui vẻ và có không khí Tết nhất là đêm Giao Thừa tại các chùa. Chùa nào cũng đông người đi lễ Phật, đi coi văn nghệ và đốt pháo. Vì an ninh, các chính quyền thành phố chỉ cho đốt pháo tại một số chùa có xin phép, nên rất đông người, nhất là giới trẻ là những người ghiền đốt pháo Tết, tập trung về các chùa có đốt pháo để “ăn ké.” Có chùa vào giờ Giao Thừa từ trong chánh điện ra tới ngoài đường người đi không có chỗ chen chân. Đúng là đông như ngày hội Tết! Tất nhiên hễ có đông người tụ hội thì không sao tránh khỏi những điều phức tạp. Có chùa than phiền về tình trạng người đi lễ đầu năm bứt bẻ cây cảnh để làm lộc đầu năm khiến cho cây kiểng trong chùa xác xơ tan nát, nên các chùa đã chuẩn bị thật nhiều trái cây như cam quýt hoặc những cành mai, hoa đủ thứ và cả bao lì xì để tặng người đi lễ chùa làm lộc mang về đầu năm.

Ấy vậy mà sao có người đòi bỏ đi tục lệ đón xuân ý nghĩa và cao đẹp này? Thật là mười phần không nên. Nếu sợ tốn kém, phung phí thì chỉ nên giảm bớt ngày nghỉ lễ Tết không để kéo dài quá lâu làm hãng xưởng, công sở bị thiệt hại và ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước thôi. Nhưng đó là chuyện ở trong nước, còn ở hải ngoại thì ngày Tết Việt Nam không ảnh hưởng tới công sở Mỹ, có chăng là một số cơ sở kinh doanh của người Việt, mà cũng chỉ cho nghỉ vài bữa chứ không lâu lắm.

Năm mới, ai cũng mong điều tốt đẹp sẽ đến, nhất là trong bối cảnh nhiều bất an của thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay. Truyền thông ngày nào cũng tràn ngập những tin tức về Nhà Nước Hồi Giáo (IS) và khủng bố al-Qaeda  mở mặt trận quy mô ở Syria, Iraq, vừa rình rập từng cơ hội để nổ bom, bắn giết nhiều người trên khắp thế giới từ Âu Châu sang Mỹ Châu. Hàng triệu di dân tại Trung Đông và Bắc Phi tràn qua Châu Âu gây khủng hoảng an ninh, kinh tế, xã hội chưa từng có và tạo dây chuyền bất ổn đến các nước khác trên thế giới. Chưa hết, còn chủ nghĩa dân tộc tả phái, hữu phái cũng đang vùng dậy, qua hình ảnh của một Tổng Thống Nga Vladimir Putin, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng Thống Philippines Rodrigo Duterte, và mới đây Tổng Thống Mỹ Donald Trump. Thêm vào đó là các chủ trương bảo hộ mậu dịch về kinh tế góp phần tạo mối de dọa đến các thành quả có được của toàn cầu hóa trong mấy chục năm qua. Trật tự thế giới đang bị những nhà chủ nghĩa dân túy đó sắp xếp lại theo chủ thuyết riêng của họ mà chẳng nghĩ gì tới sự an nguy của toàn nhân loại. Thực trạng của một đất nước Syria tan nát, một Châu Âu đầy bất trắc, một Trung Mỹ chao đảo, một Biển Đông của Thái Bình Dương dậy sóng là các hệ quả của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Và chắc chắn sẽ còn nhiều bất an nữa sẽ diễn ra trên hành tinh này trong những năm tháng tới!

Không chỉ có chừng đó bất an, thế giới này và đặc biệt ngay trên quê hương Việt Nam tình trạng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi sinh đã và đang đem tới nhiều thiệt hại to lớn về nhiều mặt, từ kinh tế, xã hội tới an ninh, sức khỏe và đời sống của con người. Thảm họa mực nước biển dâng cao xâm thực làm thiệt hại việc canh tác tại đồng bằng lưu vực Sông Cửu Long; vụ thải chất độc xuống biển của công ty Formosa tại Hà Tĩnh làm cá chết hàng loạt, gây ô nhiễm vùng nước biển, khiến cho hàng triệu người dân nhiều tỉnh miền Trung Việt Nam lâm vào tình cảnh điêu đứng khổ sở!

Chắc có người sẽ nhíu mày cho rằng bộ hết chuyện nói rồi chăng, sao ngày Tết ngày Nhứt mà lại đem ba cái chuyện không vui này ra nói!

Thưa, trên đời, đã có chuyện vui thì ắt có chuyện không vui. Nhất là người con Phật thì ý thức rõ điều đó hơn ai hết. Và nếu đã thích vui thì cũng phải chấp nhận cái không vui, vì đó là hai mặt của cuộc đời luôn luôn cùng hiện hữu. Không ai có thể chỉ muốn có điều vui không thôi mà không nhận điều không vui được. Dù mình có phủ nhận, có từ chối, có trốn chạy cái khổ thì nó vẫn sờ sờ ra đó, ngay trong nhà mình, trong cuộc sống mình, trong thân tâm mình. Trong thế giới tương quan duyên khởi này có không, sinh diệt, khổ vui cùng nương nhau mà tồn tại, khi “cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không.” Bởi thế chúng ta mới đi theo đức Phật, mới đến với đạo Phật để học và tu sao cho đạt tới mở mang trí tuệ để nhìn rõ bản chất các pháp và biết cách trực diện để chuyển hóa chứ không trốn chạy nữa. Khi làm được vậy thì mới mong giải thoát khổ đau.

Trong mấy ngày Tết tạm được nhàn hạ một chút, người con Phật cũng nên suy nghiệm là chúng ta có thể làm gì để góp phần giải quyết các nan đề của nhân loại nói chung và ngay chính cuộc sống của mỗi người chúng ta nói riêng? Từ vấn đề đó dẫn chúng ta đến hai vấn đề khác là, một, có phải người Phật tử là nên tránh xa những chuyện đời như thế để chỉ lo tu hành thôi; và hai, trong Phật Giáo có giải pháp cho những vấn đề như thế?

Nãy giờ nói chuyện cũng hơi lâu, bình trà đã pha tới nước thứ ba rồi. Nước trà đã lạt, hết ngon. Xin cho phép vài phút để người viết pha lại bình trà khác uống cho đậm đà, nha quý vị. À, nói chuyện say mê đến quên thưởng thức món mứt gừng vừa cay, vừa ngon miệng rồi. Trong lúc chờ pha bình trà khác, xin mời chư vị ăn mứt để biết hương vị Tết Đinh Dậu mặn mà cỡ nào!

Bây giờ chúng ta lại vào chuyện tiếp. Được rồi chứ!

Thật ra, sự tồn tại và phát triển của Phật Giáo trên thế giới hơn hai ngàn rưởi năm và tại Việt Nam hơn hai ngàn năm đã là câu trả lời thật rõ ràng cho chúng ta đối với những vấn đề vừa được nêu ra. Tại sao? Bởi vì, nếu Phật Giáo không có khả năng, không đóng góp được gì cho nhân loại và cho đất nước Việt Nam thì Phật Giáo đã không được nhân loại và dân tộc Việt đón nhận một cách trân quý và nhiệt thành như chúng ta đã và đang thấy suốt chiều dài lịch sử trên hai mươi lăm thế kỷ qua.

Trong tác phẩm Lý Hoặc Luận, có mặt vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ 2 sau tây lịch tại Giao Châu, tác giả Mâu Tử — một tri thức Tàu tị nạn tại Giao Châu và rồi chống lại quan điểm cho rằng nước Trung Hoa là trung tâm của trời đất — khi bàn về đạo hiếu trong Phật Giáo có nói rằng đạo lý đó không phải là lý thuyết suông mà là “Ở trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì cứu dân độ thế, khi ngồi một mình thì tu thân”.

Đúng vậy, trên thực tế Phật Pháp không chỉ là lương dược trị bệnh thân tâm cho cá nhân con người mà còn là giải pháp hữu hiệu để trị quốc an dân. Điều này đã được lịch sử chứng thực qua việc đem giáo pháp Phật để bình trị thiên hạ một cách thành công của Vua A Dục ở Ấn Độ, Vua Lương Võ Đế ở Trung Hoa, các vua triều đại nhà Đinh, Lê, Lý, Trần của Việt Nam, v.v… Gần đây nhất là cuối năm 1999, Liên Hiệp Quốc cũng đã ra Nghị Quyết lấy giáo pháp từ bi và hòa bình của đức Phật để xoa dịu và hóa giải những bất an, bạo động và khủng hoảng trên thế giới. Cũng nhân Nghị Quyết đó, Liên Hiệp Quốc mới đặt ra việc tổ chức Đại Lễ Vesak, kỷ niệm ngày Đản Sanh, Thành Đạo và Nhập Niết Bàn của đức Phật hàng năm.

Hãy nói chuyện ở nước mình cho dễ thấy. Rằng, nếu mọi người từ dân đến quan đều thực hành lời Phật dạy một cách hữu hiệu, giữ gìn Năm Giới, bỏ bớt tham sân si, thực hiện lòng từ bi thương yêu lẫn nhau [từ bi], biết nghĩ cho người khác [lợi tha], vận dụng được phần nào tiềm lực trí tuệ ngay trong chính mỗi người [trí tuệ], thì sẽ mang lại biết bao lợi lạc cho mình, cho người, cho đất nước và dân tộc. Đừng nói đâu xa chỉ xin nói một chuyện là mỗi người dân, mỗi ông quan có thể bỏ bớt lòng tham chiếm hữu của cải của người khác, không trộm cắp của người, của công, giữ lòng thanh bạch thì đã có thể tránh được đại nạn tham nhũng, bốc lộc và hà hiếp dân lành. Ngay như chuyện Fomorsa còn mới tinh trước mắt, suy cho cùng căn nguyên sâu xa nhất cũng là từ lòng tham của con người mà ra, phải không? Còn gì nữa chứ! Thì do lòng tham mà các quan có trách nhiệm đã mắt nhắm mắt mở dễ dãi thông qua kế hoạch để nhận hầu bao, do tham lợi mà mờ mất lương tri không nghĩ tới hậu quả tai hại cho người khác, do tham lam mà quên mất việc làm của mình sẽ dẫn tới thiệt hại lớn lao và lâu dài cho môi trường sống của muôn vạn người dân, v.v…

Người viết có cảm nghĩ dường như người con Phật ngày càng có khuynh hướng sống và cho rằng người tu Phật thì không nên can dự vào chuyện đời, nhất là chuyện “chính trị chính em,” thì phải!

Xin nhớ rằng, Phật Giáo sở dĩ được các dân tộc bản điạ đón nhận một cách hoan hỷ và xem như là một bộ phận gắn bó của dân tộc đó, như ở nước ta, chẳng hạn, hay có câu nói “đạo pháp và dân tộc như nước với sữa,” là vì Phật Giáo, ngoài việc tự tu tự độ, còn làm được rất nhiều việc lợi lạc cho con người và xã hội, kể cả chuyện trị quốc an dân.

Nhân chuyện này, chúng ta cũng nên chiêm nghiệm lại vấn đề rằng là, tại sao hậu thế ngày nay khi nhắc đến công hạnh cống hiến cho quốc gia xã tắc của các vị thiền sư Việt Nam thời Đinh, Lê, Lý, Trần như Thiền Sư Khuôn Việt, Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền Sư Tuệ Trung Thượng Sĩ, Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông, v.v… thì không tiếc lời tán dương, ca ngợi, nhưng lại chê trách việc dấn thân hộ quốc an dân của người con Phật thời nay? Chẳng lẽ những việc quý ngài thời đó làm lại không liên quan đến chuyện chính sự hay sao!

Bình tâm mà xét, chúng ta có thể thấy rằng, ngoài việc đóng vai trò giữ vững ngọn đèn Chánh Pháp, nỗ lực hoằng pháp lợi sinh, người con Phật, cũng cần đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước và xã hội ở nhiều bình diện khác, gồm cả chính trị. Ở đây, chư vị xuất gia vì đời sống tu hành xuất thế không tiện tham gia vào chính sự thì có thể góp phần vào công cuộc giáo dục quần chúng, giáo dục tuổi trẻ, gây ý thức, truyền trao kiến thức để những người Phật tử tại gia này trực tiếp đóng góp vào việc trị quốc an dân. Cũng xin nhắc lại rằng, ngày xưa tại nước ta khi chưa có hệ thống giáo dục nhà nước để đào tạo nhân tài ra giúp nước, thì chùa chiền là nơi đảm nhận vai trò giáo dục quốc dân, mà bằng chứng lịch sử rõ nhất là triều đình Nhà Đinh đã cử Thiền Sư Đỗ Pháp Thuận giả làm gã chèo đò để tiếp đón sứ giả Nhà Tống là nhà thơ Lý Giác đi sứ sang Việt Nam; hoặc Vua Lý Công Uẩn được Thiền Sư Vạn Hạnh nuôi dạy trong chùa rồi cho ra làm quan tới chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ trong triều đình Nhà Lê nên mới có cơ hội làm cách mạng để lập ra Nhà Lý.

Tất nhiên, đó không phải là chuyện dễ thực hiện. Xin nêu ra hai cái khó. Trước hết, Phật Giáo Việt Nam hiện tại trong nước vẫn chưa có các trường trung tiểu và đại học được nhà nước công nhận để thực hiện việc giáo dục tuổi trẻ hữu hiệu. Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều điều có thể làm được như biến nhà chùa thành cơ sở giáo dục nhiều mặt, có thể là nơi dạy kèm sau giờ học, là nơi giúp dạy nghề nghiệp, dạy ngoại ngữ, dạy sử dụng máy điện toán, v.v… Chùa cũng có thể lập các tủ sách, hay quy mô hơn thì lập thư viện, tùy theo điều kiện cơ sở vật chất, tài chánh và nhân sự của chùa. Lập được thư viện ngay trong chùa là điều lý tưởng vì vừa giúp các em có sách vở tham khảo, học hành, vừa khuyến khích các em nói riêng và quần chúng nói chung tham gia vào công cuộc đọc sách để vực dậy phong trào đọc sách trên cả nước. Đây là công tác có hiệu quả dài hạn, bởi vì đó là cách bồi đắp nền dân trí của quốc dân thực sự. Khi dân trí cao thì đất nước dễ tiến bộ và phát triển.

Cái khó thứ hai là dù người Phật tử tại gia có quy y có thọ năm giới, có học Phật Pháp, có Thầy bổn sư dạy dỗ, nhưng khi tham gia vào guồng máy chính trị điều hành đất nước thì chưa chắc giữ được đạo tâm và làm được những gì đã học từ trong chùa, bởi vì khi vào đó thì rất dễ bị lợi danh, quyền hành lôi kéo và khó giữ sạch mình. Đây không những là thực tế xã hội mà còn là nan đề của Phật Giáo Việt Nam. Các Phật tử có tâm có tu thì không thích dấn thân vào chính sự, còn các Phật tử xông pha vào chính trường thì thường, chứ không dám nói là hết tất cả, bị “bác phong xuy động,” rồi đánh mất sơ tâm của mình. Đây là thiếu sót của phương thức giáo dục hay là “bản chất nan di” của con người dù là người con Phật?

Nói tới chuyện này, chúng ta cũng cần quan sát hiệu quả của công tác hoằng pháp, hướng dẫn quần chúng Phật tử sao cho công tác Phật sự mang lại thành quả thực sự. Chẳng hạn, trong một khu phố, trong một ngôi làng, hay rộng hơn trên bình diện cả nước nếu chúng ta thường tự hào tỉ lệ Phật tử trong dân số chiếm phần đông nhưng thực tế xã hội ngày càng có nhiều tệ nạn, tệ đoan, tội ác, bất an lan tràn, thì phải xét lại phương thức góp phần xây dựng con người và xã hội như thế có phù hợp không, có hiệu quả không.

Còn nữa, người con Phật làm sao để hình ảnh của đức Phật, của Phật Giáo luôn luôn thân cận, hòa đồng với dân tộc, với đất nước, đừng biến đức Phật thành vị thần thánh chỉ biết ngồi trên cao ban phước giáng họa và cũng đừng biến Phật Giáo thành một tôn giáo xa cách với đồng bào Phật tử. Hai hình ảnh dễ thấy nhất là vị Tăng Sĩ và ngôi Chùa. Ở giữa cộng đồng dân chúng nghèo khổ, đói rách, cơ cực không thể có hình ảnh một vị Tăng Sĩ giàu sang quyền quý và một ngôi chùa đồ sộ nguy nga với những mảnh giấy xác lập kỷ lục chùa to, Phật lớn. Những hình ảnh đó chắc chắn không những biến Phật Giáo thành một ốc đảo giữa nhân gian, mà còn làm đau lòng những người con Phật hiểu biết Chánh Pháp!

Thực tế, con người, dù là người con Phật, khi đi vào đời để hành đạo, nhất là hành đạo trong môi trường xã hội phức tạp, đặc biệt là trong lãnh vực chính trị, thì rất dễ bị biến chất, bị tha hóa, bị thế tục hóa. Chính vì vậy, Đại Thừa trang bị cho người thực hành Bồ Tát Đạo thật kỹ lưỡng, thật nghiêm túc từ lý tưởng, phương thức cho đến nội lực từ bi và trí tuệ. Hình ảnh của Thiện Tài Đồng Tử trong Phẩm Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm trên cuộc hành trình tầm sư học đạo và thể nghiệm Phật Pháp, cũng như trang bị các kỹ năng của thế gian pháp cho thấy Đại Thừa rất nghiêm cẩn đối với vấn đề đào tạo nhân sự đi vào đời làm việc đạo. Để cuối cùng, Đại Thừa giới thiệu mẫu người đã thành tựu con đường tự giác và giác tha là Cư Sĩ Duy Ma Cật, Cư Sĩ Thắng Man Phu Nhân là những người Phật tử có đủ bản lãnh để xông vào cuộc đời làm mọi việc đời việc đạo mà không bị tha hóa. Tất nhiên, những mẫu người như thế thì không dễ tìm thấy nhiều trong suốt dòng lịch sử Phật Giáo thế giới. Nhưng mẫu người lý tưởng đó không phải chỉ là cái hình ảnh biểu tượng chỉ để ngắm, để tôn thờ và để mơ ước, mà trên thực tế cũng đã có những người con Phật làm được tại Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, v.v… như được nêu ra ở trên.

Nhắc đến Thiện Tài Đồng Tử thì cũng phải nhắc đến những bậc Thầy trác việt của chàng thanh niên Phật tử này, mà hai trong số rất nhiều thân giáo sư của Thiện Tài là Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Di Lặc. Bồ Tát Văn Thù là bậc đại trí tuệ đã chỉ dẫn cho Thiện Tài từ sơ cơ đến cứu cánh. Còn Bồ Tát Di Lặc người đã khai thị cho Thiện Tài về tâm bồ đề. Người con Phật hành Bồ Tát Đạo thì trước hết là phải phát khởi tâm bồ đề, là tâm trên cầu thành Phật và dưới thệ nguyện cứu khổ chúng sinh. Muốn thành Phật và cứu chúng sinh đều cần phải tu tập làm sao để xả kỷ, bỏ ngã chấp. Tâm bồ đề chính là tâm vô ngã. Không có tâm bồ đề thì không làm được việc lớn.

Vào đêm cúng Giao Thừa tại các Chùa Việt Nam cũng đồng lúc cử hành Lễ Khánh Đản của đức Phật Di Lặc, vị Phật tương lai luôn luôn nở nụ cười trên môi vì tâm ngài là tâm bồ đề, tâm giác ngộ, tâm giải thoát mọi khổ đau. Chúng ta làm lễ kỷ niệm Ngài đầu năm để học theo đại nguyện và đại hạnh hưng phát tâm đồ đề của mình để làm cho mình có đủ nghị lực vượt qua mọi khổ não của cuộc đời đầy bất an.

Lo đàm đạo hăng say quá mà quên cả bình trà pha lần thứ hai cũng đã cạn. Thôi thì, xin dừng lại câu chuyện đầu năm ở đây để chúng ta cùng pha trà, ăn mứt và tiếp tục đón xuân Đinh Dậu.

Kính chúc chư vị một năm mới tràn đầy sức khỏe, phước lộc và bình an.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s